Nguyên lý chọn ngày theo lịch can chi

Dịch giả:

Nhà xuất bản: Hồng Đức

Khổ giấy: 19 x 27 cm

Năm xuất bản: 2015

Số trang: 363

Giá bìa: 125.000 VNĐ 100.000 VNĐ20%
OFF


Cuốn
sách “Nguyên lý chọn ngày theo lịch Can chi” được xuất bản lần đầu năm 1999,
tái bản lần thứ hai năm 2003, lần thứ ba năm 2005, lần thứ tư năm 2008, lần thứ
5 năm 2011, đã được phát hành nhiều đợt, đáp ứng được phần nào sự mong đợi của
bạn đọc, giúp tránh bớt những sự kiêng kỵ vô lý gây phiền hà cho công việc hàng
ngày, còn lưu hành theo thói quen trong trong nhân dân ta.

Nhiều
bạn đọc am hiểu về triết học và các khoa dự báo cổ đã viết thư khen ngợi, động
viên tác giả, cũng như đã chỉ ra những chỗ viết còn sơ sài chưa được rõ ràng,
và cả những sai sót trong ấn loát. Căn cứ vào những ý kiến đóng góp của bạn
đọc, lần tái bản này chúng tôi cố gắng sữa chữa, bổ sung những chỗ còn thiếu
sót, lược bỏ những chỗ thừa không cần thiết. Tuy nhiên dù có bổ sung bao nhiêu
cũng không thể thoả mãn được mọi yêu cầu của bạn đọc. Do phạm vi được đăt ra
như đầu đề đã nêu, cuốn sách không thể viết quá dài vượt ra ngoài khuôn khổ
những điều phổ thông thích hợp với mọi người. Tác giả chỉ cố gắng thêm vào
những tóm tắt cần thiết kèm những mô hình và các bảng thống kê cụ thể để bạn
đọc dễ sử dụng hơn và tra cứu khi cần.


sở của lịch Can chi là hai bức Hà Đồ và Lạc Thư – ghi bằng chấm đen, chấm trắng
cùng những ký hiệu vạch liền và vạch đứt khắc trên mai rùa lớn, cách ngày nay
đã khoảng 5000 năm. Vua Nghiêu thời đó là đại diện cho dân Hán – Mông ở phía
bắc sông Hoàng Hà, chuyên về du mục, giỏi cưỡi ngựa, bắn cung và rất thiện
chiến. Họ luôn luôn tìm cách bành trướng xuống khu vực phía nam, thuộc lưu vực
hai con sông lớn là Hoàng 

và Dương Tử – vốn là địa bàn của các dân tộc Tam Miêu và Bách Việt – chuyên
nghề trồng lúa nước rất sớm.

Trải
qua hàng ngàn năm liên tục bị xâm lược, khu vực nông nghiệp rộng lớn thuộc lưu
vực hai con sông Hoàng Hà và Dương Tử bị chiếm đóng đã tạo nên nước Trung Hoa.

Kho
tàng trí thức cổ của tiền nhân để lại rất lớn, nhiều người trong chúng ta ngày
nay không đọc được sách cổ viết bằng chữ Hán Nôm, do đó bị cắt rời khỏi nền học
vấn truyền thống. Hơn nữa, trên nửa thế kỷ qua, trước sức lôi cuốn của học
thuyết Marx-Lenin, ở nước ta rất ít người để tâm tìm hiểu sâu về những tư tưởng
cũ. Tuy nhiên, dù muốn hay không, chúng ta cũng đã được sinh ra và lớn lên
trong nền văn hoá bị lãng quên đó. Một nền văn hoá có bề dày gần năm ngàn năm
lịch sử, đã để lại dấu ấn sâu đậm 
trong
ngàn vạn kiến trúc, từ ngôi nhà ở nơi thôn xóm đến cung điện, lăng tẩm, đền
miếu, chùa chiền khắp mọi miền đất nước. Nền văn hoá đó còn ghi dấu ấn cả trong
nếp sống, cách suy nghĩ đến phong tục, tập quán suốt trong nam ngoài bắc; để
lại cả hàng vạn làng nghề mà ngày nay ta đang phải ra sức phục hồi, để cố gắng
có một nét riêng độc đáo trong xu hướng hội nhập toàn cầu hoá hiện nay. Cho tất
cả những tinh hoa của nền học vấn cũ là “mê tín” rồi dùng quyền hạn tạm thời
đang có để loại bỏ, để cấm đoán, chỉ là thái độ của kẻ kém trí tuệ. Đánh mất
những cái đó cũng là đánh mất chính mình, chính bản sắc của dân tộc mình. Cần
phải đánh giá lại, những gì là tinh hoa để kế thừa, những gì là sai lầm, mê tín
cần loại bỏ
. Điều khó khăn lớn nhất cho
mọi người là: phương pháp tư duy của các học giả Á Đông xưa là lối “tư duy
thuần lý” cổ – rất phù hợp với “tư duy trừu tượng của toán học, cũng là những
quy luật khách quan của tạo hoá – nhưng đều không được chứng minh cụ thể bằng
các phương pháp theo “khoa học thực nghiệm” ngày nay. Vì vậy mà chúng rất dễ
lẫn lộn với những nhận thức theo kiểu mê tín dị đoan của con người.

Ngày
nay đang có một phong trào “tuyên truyền cho những điều mê tín núp dưới các
danh nghĩa khoa học” và các danh từ còn chưa được định nghĩa rõ ràng như “thần
giao cách cảm”, “ngoại cảm”… thực chất là “phủ nhận con đường của trí tuệ”
vốn đã và sẽ là con đường của tạo hoá ban cho khối óc con người để có thể tìm
về nguồn cội và gốc rễ mọi vấn đề, kể cả vấn đề “tâm linh” còn đầy bí hiểm. Đó
là một điều cảnh báo đối với những bạn đang ham mê nghiên cứu những tư tưởng
của nền văn hoá cổ cần phải hết sức chú ý.

Đời người có hạn mà sự hiểu
biết thì vô cùng, tác giả tuy đã cố gắng nhưng cũng tự biết sức mình có hạn,
nên những bất cập và thiếu sót của cuốn sách là không thể tránh khỏi. Tác giả
chân thành mong các độc giả tinh thông về văn hoá cổ chỉ giáo thêm để khi có dịp
còn có thể bổ sung và sửa chữa thêm.

Đối tác